Sự biến đổi nhanh chóng về KT-XH của Thanh Hóa dưới thời Lý

  08:37 !! 28/04/2019

Ở thế kỷ X, vùng đất Châu Ái – xứ Thanh là tâm điểm có sự đóng góp vô cùng lớn lao cho sự phục hưng văn hóa dân tộc.

Dưới các thời Ngô – Đinh – Tiền Lê đầy ngắn ngủi (với chỉ 60 năm 939 – 1009), mặc dù đã hình thành nhà nước quân chủ, song việc thống lĩnh, cai quản các vùng đất trực thuộc như Châu Ái – xứ Thanh chủ yếu vẫn dựa vào các thủ lĩnh vùng (như Lê Lương ở giáp Bối Lý và Dương Đình Nghệ ở làng Dàng) – những người được triều đình ban chức, tước lớn có quyền lực rất cao. Vì vậy mà khi nhà Lý được thiết lập, một số thủ lĩnh vùng (mà sử cũ có lúc gọi là hào trưởng, hay các châu mục mang chức vụ khác nhau) vì có gắn bó với các triều trước mà chưa chịu thuần phục nhà Lý ngay. Do đó, khi nhà Lý rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mới thực sự bắt đầu vào việc cải tổ chính quyền quân chủ tập quyền và củng cố, phát triển lực lượng quân đội để khẩn trương bình định những cuộc chống đối nổi dậy ở các địa phương như sự ghi chép của sử cũ, đồng thời tạo sức mạnh cho quốc gia Đại Việt có đủ điều kiện để ngăn chặn những âm mưu, hành động xâm lược của nhà Tống ở phía Bắc và Chăm Pa ở phía Nam ra.

Và trên thực tế, với việc dẹp loạn ở một số nơi của Châu Ái – xứ Thanh (như ở Man Cử Long – nay thuộc Cẩm Thủy, Ngũ huyện giang – thuộc hạ lưu sông Mã chỗ vùng Ngã Ba Bông – “nơi con gà gáy 5 huyện cùng nghe”, hay ở giáp Đan Nãi – nay thuộc Yên Định…) của quân đội nhà Lý dưới 3 triều vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028), Lý Thái Tông (1028 – 1054), Lý Thánh Tông (1054 – 1072) thì vùng đất trại xa kinh thành này mới từng bước ổn định. Nhưng thực chất phải đến triều vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128), khi Lý Thường Kiệt – một chức quan đầu triều lẫy lừng thiên hạ trong sự nghiệp phá Tống, bình Chiêm được phái vào làm tổng trấn Thanh Hóa từ năm 1082 – 1101 thì xứ Thanh mới thực sự trở thành một vùng đất phên dậu ổn định, vững chắc và tin tưởng của quốc gia Đại Việt. Cũng phải tới lúc này trở đi thì trấn Thanh Hóa mới có lực lượng quân đội thường trực đóng giữ. Vì vậy mà các thế lực cát cứ nổi dậy khó có thể diễn ra. Hơn nữa, bộ máy chính quyền địa phương của Trại – Trấn Thanh Hóa cho đến tận hương, giáp, thôn đã được củng cố tăng cường chặt chẽ hơn, cho nên đã góp phần quan trọng làm cho tình hình KT-XH ở địa phương từ trên xuống tận cơ sở ngày một ổn định và phát triển hơn nhiều so với trước.

Sự thay đổi bộ mặt xã hội của Thanh Hóa dưới triều Lý được thấy rõ nhất là khoảng thời gian từ lúc Lý Thường Kiệt được vào đây làm Tổng trấn (1082 – 1001) và suốt cả thời kỳ triều vua Lý Nhân Tông trị vì. Đó chính là việc xây dựng, bảo tồn, tôn tạo một loạt chùa chiền mới và có cũ ở các thời trước mà chúng ta đã biết như chùa Minh Tịnh (Hoằng Hóa), chùa Báo Ân núi An Hoạch (Đông Sơn), Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Hậu Lộc), chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni (Thiệu Hóa), chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (Hà Trung)…

Ngoài ra, dưới thời Lý, việc cho kiến thiết, xây dựng trên vùng đất Duy Tinh (thuộc xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc nay) thành trấn lỵ (hay có thể gọi là đô thị cổ) của Thanh Hóa là một minh chứng hùng hồn để thấy rõ sự đổi thay nhanh chóng ở vùng đất xa kinh thành này. Theo sự cho biết của văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh thì sau khi Lý Thường Kiệt được rút về triều thì Thông Phán Chu Công đã nối tiếp người tiền nhiệm hoàn thiện việc xây dựng trấn lỵ Thanh Hóa ở Duy Tinh thành một khu đô thị uy nghi, bề thế với đầy đủ thành, quách, đền, chùa, dinh thự và cảng sông tấp nập. Và đô thị – trấn lỵ ấy được văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (soạn, dựng vào năm Mậu Tuất, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 9, tức năm 1118) đánh giá là “sánh với Vương Xá Thành và An Dưỡng giới vậy”(1). Theo chú thích của nhóm tác giả dịch tấm bia này thì “Vương Xá thành: là thành Rajagrha ở nước Ma già đà, thuộc miền Trung Ấn Độ ngày nay”(2). Đó quả là lời nhận xét vô cùng quý giá giúp chúng ta có thể hình dung, tưởng tượng về quy mô bề thế của trấn lỵ xứ Thanh thời Lý. Và giờ đây, đã qua rồi gần 10 thế kỷ, nhưng vùng đất Duy Tinh – trấn lỵ xưa vẫn còn lưu giữ nhiều di tích cũ như bia, chùa Sùng Nghiêm với vô số di vật bằng chất liệu đá, gạch, gốm được tạo tác một cách tài hoa của đội ngũ thợ thủ công giầu tâm hồn và trí tưởng tượng mà ở phần di tích sẽ được nêu rõ. Cũng tại đây, hình thế của 3 con sông ôm bọc lấy vùng đất trấn thành trên bến, dưới thuyền cũng phần nào cho chúng ta hình dung được sự sôi động và phát triển nhanh chóng của vùng đất trấn lỵ xứ Thanh thời Lý.

Dấu tích thời Lý chỉ còn giữ được ở Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh là ba bệ sen bằng đá và một tấm bia vô giá dựng năm 1118.

Ở thời Lý, riêng lực lượng thợ đúc đá cũng khá đông đảo và rất nổi tiếng về tài chạm khắc. Giờ đây, được trực tiếp quan sát và nhìn ngắm những hiện vật đá còn sót lại như các tấm bia phật giáo thời Lý còn sót lại, hay 3 bệ đá đỡ tượng như tòa sen và các phiến đá chạm rồng ở chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, hay các mẫu tượng đá mang phong cách Chăm Pa ở trên Nhồi (thuộc Đông Sơn) thì chúng ta sẽ phải ngạc nhiên và thán phục về sự sáng tạo nghệ thuật trong kiến trúc điêu khắc đá của các thợ nghệ nhân xứ Thanh thời Lý.

Theo văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch cho biết thì chính Tổng trấn Lý Thường Kiệt là người từng cho tuyển chọn thợ đục đá ở Cửu Chân đến chỗ núi An Hoạch (nay thuộc làng Nhồi, huyện Đông Sơn) để khai thác đá quý làm khí cụ, bia ký và chùa Báo Ân nữa. Đây là đoạn văn bia chép rõ điều đó: “Đến năm Nhâm Tuất (1082) Hoàng đế đặc cách gia thêm một quận Thanh Hóa, ban tặng cho ông làm ấp phong. Những người chăn dân hướng theo phong thái, muôn dân ngưỡng mộ đức ân. Ở phía Tây Nam huyện có một quả núi lớn và cao tên là An Hoạch, là nơi sản xuất ra loại đá đẹp. Đá núi này là sản vật quý của nhà nước. Sắc óng ánh như ngọc lam, chất xanh xanh tựa khói nhạt. Đục đá ấy làm khí cụ, ví như: tạc làm khánh, khi đánh thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương còn bền mãi muôn đời. Thế là Thái úy Lý Công cẩn trọng sai một viên Thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao đem người hương Cửu Chân dò tìm trong núi, chọn lấy đá tốt. Mười chín năm trời năng nổ tiết tháo, dân chúng theo về…”(3). Từ đấy làng ở xung quanh chân núi An Hoạch (sử cũ gọi là làng An Hoạch, còn dân gian thì gọi là làng Nhồi) đã trở thành làng nghề đục đá nổi tiếng đã từng làm ra biết bao bia đá, khánh đá và vật dụng bằng đá cho khắp cả xứ Thanh, nước Việt.

Ngoài nghề đục đá, Thanh Hóa trong thời Lý cũng còn có nhiều nghề thủ công nổi tiếng khác như làng nghề đúc đồng ở Trà Đông, giáp Bối Lý (nay thuộc Thiệu Trung, Thiệu Hóa), nghề dệt lụa, dệt vải, làm gốm và đan lát đã có rất nhiều nơi. Các sản phẩm thủ công không chỉ đảm bảo cho đời sống tự cấp, tự túc ở địa phương mà còn đủ cung cấp cho yêu cầu của bộ máy chính quyền và lực lượng quân đội thường trực. Không những thế, nhiều sản phẩm thủ công như đồng, gốm và hàng tơ lụa của xứ Thanh còn trở thành vật phẩm hàng hóa để trao đổi, mua bán với các thương gia, thương đoàn trong ngoài nước khi họ đến xứ Thanh. Và dưới thời Lý, trấn lỵ Thanh Hóa ở Duy Tinh, hay cửa biển Lạch Trường và một số nơi cửa sông, cửa biển khác đều đã trở thành những trung tâm thương mại lớn mà nhiều phiên thuyền trong nước và hải ngoại đều đến tụ tập và họp chợ cả trên bờ, dưới sông một cách thật sôi động. Ngoài ra, một số chợ quê ở các quận, huyện, hương giáp dưới thời Lý cũng hình thành đã góp phần làm cho đời sống xã hội biến đổi theo chiều hướng tích cực. Và chính nhờ con đường trao đổi và mua bán hàng hóa với các vùng trong nước và hải ngoại cũng là điều kiện tốt để có sự giao thoa văn hóa giữa xứ Thanh với các vùng đất gần, xa khác.

Về nông nghiệp – nghề sống chính của người dân xứ Thanh ở thời Lý cũng có nhiều biến đổi, khởi sắc so với trước nhờ sự chú trọng, quan tâm của triều đình và các mệnh quan. Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn ở đoạn ca ngợi công lao của vị Tổng trấn Lý Thường Kiệt có những dòng viết rõ về điều đó như: “…Biết dân lấy ăn làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ, tài giỏi mà không dùng đến trách phạt, nuôi dưỡng đến người già nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được an thân”(4).

Qua tài liệu sử cũ và các bia Lý còn lại thì chúng ta thấy ở thời Lý, nhà nước quân chủ cũng rất chú trọng đến công tác thủy lợi. Ngoài việc cho cải tạo, nạo vét hệ thống kênh đào thời Tiền Lê, nhà Lý còn cho đào thêm một số kênh sông mới để giải quyết việc tiêu úng và giao thông đi lại thuận lợi giữa các vùng với nhau. Như ở Quảng Xương hiện nay vẫn còn có con sông đào mà dân gian vẫn gọi là sông Lý chạy từ đầu huyện xuống cuối huyện dài tới hơn 20km, nối thông vào sông Ghép, đó chính là con kênh đào được có ở thời Lý mà hiện nay được chúng ta cải tạo thành công trình thủy lợi tưới, tiêu phần lớn diện tích đất đai ở huyện Quảng Xương nay.

Có thể nói, qua khảo cứu ở sử cũ và các bia Lý còn sót lại, chúng ta thấy Thanh Hóa dưới triều Lý hầu như không có sự mất mùa, đói kém lớn đến mức làm dân phải phiêu tán đi nơi khác.

Cũng vì nhà Lý lấy nghề nông làm gốc, cho nên mặc dù ở thời kỳ này, mặc dù thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Thanh Hóa có sự phát triển và nhiều khởi sắc hơn trước nhưng cũng không thể vượt qua sự ràng buộc của nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp là chủ yếu.

Chung quy lại, với những gì như đã nêu ở trên thì chúng ta vẫn có đủ căn cứ để khẳng định vùng đất Thanh Hóa dưới thời Lý mặc dù bị phân biệt là vùng đất trại xa kinh thành nhưng nhờ có sự quan tâm của triều đình, nhất là từ thời Lý Thường Kiệt vào làm tổng trấn trở đi đã có những biến đổi nhanh chóng thật đáng kể. Dưới thời Lý mà trấn lỵ xứ Thanh được ví giống như thành phố cổ Vương Xá Thành ở Ấn Độ và khi các nước lân bang dừng chân ngắm xem chùa Linh Xứng phải cúi đầu bái phục và rất nhiều di tích, di vật thời Lý còn lại đến nay trên đất xứ Thanh đều nói lên sự nhận định về sự biến đổi nhanh chóng của xứ Thanh dưới thời Lý là một sự thật khách quan mà bất kể ai nhìn nhận lại cũng đều thấy tự hào và hãnh diện.

Theo Báo VH và ĐS TH